Mủ trôm được lấy từ đâu, cách pha mủ trôm không bị chua Mọc cao khoảng 35 mét và chu vi 150 cm. Cây được tìm thấy mọc trong rừng nguyên sinh và rừng thứ sinh. các nang to, nhẵn, hình trứng màu đỏ gần nhẵn. Hình trứng khoảng 10 cm, nói chung chứa 10-15 hạt. Các quả CHỐC Chốc lây Chốc bóng nước 2. CHỐC LOÉT 3. CHỐC MÉP (PERLECHE) 4. U HẠT SINH MỦ 5. VIÊM KẼ 3. 4. 5. CHỐC 2.CHỐC BÓNG NƯỚC Tụ cầu Sơ sinh thành dịch, nhất là nhà trẻ Sang thương: bóng nước chùng, vết trợt nông hình tròn, đa cung 6. Choác boùng nöôùc 7. Bệnh u hạt bẹn (tên gọi khác là bệnh Donovanosis) là bệnh lý lây truyền qua đường tình dục mạn tính, gây ra bởi trực khuẩn Gram âm Calymmmatobacterium granulomatis.Khi mắc bệnh, sẽ hình thành vết loét hạt mạn tính ở các bộ phận sinh dục, các hạch bẹn và các vùng lân cận. Riêng ở nam giới còn có hiện tượng chuỗi hạt ngọc dương vật cũng là một dạng u nhú sinh dục lành tính. Các u nhú phát triển thành hàng vòng quanh phần đầu dương vật. Bên trong u nhú sinh dục không có chứa mủ. U nhú sinh dục phát triển tốt nhất trong điều kiện vùng Điều trị u nhú sinh dục do mụn rộp sinh dục gây ra. Trong thường hợp các nốt u nhú sinh dục có kèm theo mụn mủ bên trong. Rất có thể bạn đã mắc phải bệnh mụn rộp sinh dục. Lúc này, các bác sĩ sẽ chỉ định cho bạn điều trị bằng liệu pháp miễn dịch gene sinh học INT. các môi trường chẩn đoán sinh hóa. •Mỗi loài vi khuẩn có các phản ứng sinh hóa định danh khác nhau. f1. Môi trường đặc: Môi trường thạch nghiêng: Dùng que cấy khuyên tròn cấy zig-zag lên mặt nghiêng của thạch Mt Simmon citrate MT Chapman f Môi trường thạch sâu: Dùng que cấy thẳng đâm thẳng đứng theo chiều sâu của thạch MT mannitol iFkI. U Ở MÓNG1. U LÀNH TÍNH Ở MÓNG2. U ÁC TÍNH Ở MÓNG Nail tumor 1. U LÀNH TÍNH Ở MÓNG U nhầy mucous cyst U nhầy thường gặp vùng da mặt lưng đốt ngón xa, phía trên nếp da gần gốc móng, ở người già, đặc biệt là ở phụ nữ. Biểu hiện lâm sàng là khối u chắc, giới hạn không rõ ràng, dạng vòm, màu da bình thường. Số lượng thường ít; chỉ ở một ngón. Khối u phát triển chậm. Tùy theo kích thước và vị trí của u nhầy mà nó có thể là nguyên nhân làm biến dạng móng, như tạo rãnh lõm dài ở bản móng và mầm móng, đội bản móng lên hoặc có những u quanh móng. Khoảng 30% các trường hợp u nhầy xuất hiện ở mầm móng và giường móng, gây sưng, tạo thành u ở nếp trên móng, làm tăng bề cong của móng và nhiễm màu tím ở sàn móng gây tình trạng giả ngón tay dùi trống. Mô bệnh học biểu hiện là hình ảnh giả u nhầy, với sự giải phóng thành phần gelatin và mucin trong túi cùng của móng. Khoảng 80% thương tổn có liên quan với khớp xa của ngón tay, có thể nhìn thấy sau khi tiêm nội khớp bằng dung dịch xanh methylen vô khuẩn. Điều trị chủ yếu bằng phẫu thuật cắt bỏ toàn bộ tổ chức u. Tuy nhiên, tổn thương có thể tái phát. U xơ ở móng U xơ ở móng biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau. U xơ sừng ngón mắc phải là loại u xơ thường gặp nhất. U xơ có thể xuất hiện từ nhỏ trong mô quanh móng và dạng điển hình của nó là hình nhánh tỏi. Nó cũng có thể xuất hiện ở vùng sâu, tụt vào đến rãnh gần, tạo ra khối u nhỏ dạng xúch xích. Nếu nguồn gốc của nó trong phần trung tâm của mầm móng, nó sẽ tăng trưởng về phần trong của bản móng. Ngược lại những u xơ sừng sinh ra từ giường móng sẽ biểu hiện bởi những nhú dài của móng, dưới vùng đó xuất hiện vùng giảm sản móng. Khối u của Koenen là đa u sợi của hệ móng, thường xuất phát từ nếp gần và nếp bên. Đó là những cục tròn hoặc nhú gai, gặp ở 1/3 số bệnh nhân bị u xơ của Bourneville. Khi số lượng của các u này rất nhiều, nó có thể phá hủy dần hệ móng. Đó có thể là dấu hiệu lâm sàng duy nhất của bệnh. Những thay đổi của bản móng sẽ là những lõm dài, lệch trục và bao phủ toàn bộ bản móng bởi những khối u. Khi nó xuất hiện ở dưới móng, ít hay nhiều, cũng có nguy cơ mắc u mầm móng. U xơ mầm móng hiếm gặp. Nó hình thành lên một cục ở mầm móng và nhú ở bản móng hoặc sự biến dạng kiểu tăng bề cong của móng. Trên mô học, phần chất nền của nó giống với chất nền trong u mầm móng. Khoảng 1/3 u xơ nhầy bề mặt đầu chi xuất phát ở hệ móng, đó là những tổn thương tăng trưởng chậm, gây biến dạng ngón, đặc biệt khi nó có nguồn gốc từ giường móng. U cuộn mạch glomus tumor Loại u này rất hiếm gặp, được biết đến rõ nhất là u dứơi móng. Nó xuất hiện ở đầu ngón hoặc ở mô dưới móng. Đặc trưng bởi đau dữ dội, theo nhịp mạch đập, có thể gây ra hoặc làm nặng hơn bởi chấn thương kín đáo hoặc lạnh. Để một cục nước đá vào ngón tay có thể khởi phát đau lan đến vận tại. Đau khi sờ bởi một vật mềm dấu hiệu Love giúp xác định vị trí của u, cái mà bình thường không nằm ở vị rí chính xác, khi đó sẽ nhìn thấy đốm đỏ xanh ở bản móng. Đôi khi phim chụp chỉ ra hình ảnh tiêu xương, nhưng phải trên chụp MRI chất lượng cao mới xác định chính xác vị trí của khối u. U xuất phát ừ xương, sụn Chồi xương Chồi xương thường xuất hiện ở vùng cạnh bên trong của ngón chân cái. Biểu hiện lâm sàng là những khối u cứng, đẩy bản móng lên. Chồi xương có thể xuất hiện do chấn thương lặp đi lại ở những người khiêu vũ cổ điển. Tuy nhiên, tổn thương cũng có thể xuất hiện ở các vùng của móng và làm lệch trục, loạn dưỡng móng gây ra viêm quanh móng hoặc móng rụt. Hiếm khi gặp ở hiện tượng chồi xương ở ngón tay. Cần phân biệt với can xương sau gãy ở ngay đốt cuối, giống như một lồi xương dưới móng. U xương sụn osteochondrome dưới móng U xương sụn biểu hiện lâm sàn giống với hiện tượng chồi xương. Triệu chứng cơ năng thường đau và thay đổi trên X quang giống như lồi xương. Ngay sự khác biệt trên mô bệnh học cũng rất ít, đội khi rất khó phân biệt. Hội chứng chồi xương di truyền Chồi xương di truyền có thể xuất hiện ở các đốt xa của các ngón tay. Tuy nhiên, hiện tượng này hiếm. Tiến triển giống như những thương tổn trong chồi xương mắc phải, lâu ngày có thể dẫn đến khả năng mất móng. Ngoài ra, có thể gặp hiện tượng xương ngừng phát triển, nhất là sau khi điều trị phẫu thuật tổn thương ở xương. U màng sụn U màng sụ là u thường gặp nhất trong những u xương ở bàn tay. Hiếm gặp ở đốt ngón xa. Tổn thương gây đau tăng dần. Sự phát triển chậm khối u có thể làm tăng kích thích của đốt xa với những thay đổi tương ứng ở ngón ngón dùi trống, viêm quanh móng, u dưới móng đẩy móng lên. U phát triển dẫn đến tình trạng mất xuóng và gãy xương bệnh lý. Hội chứng MAFUCCI Bệnh màng xương với nhiều u máu dứơi mô mềm, gây biến dạng trầm trọng của đốt xa dẫn đến những khối u và biến chứng loạn dưỡng móng tương ứng. U tế bào khổng lồ xương U tế bào khỏng lồ ở xương gây đau, có thể xâm nhập vào đốt xa, hình thành phát triển từ vùng màng xương, tạo ra khối u lớn gấp 2-3 lần đường kính ban đầu. Tiến triển lâu ngày có thể gây gãy xương bệnh lý. U nguyên bào sụn chondroblastome u dưới móng gây đau ở đốt xa. Ngón chân hoặc ngón tay sưng, có thể gây mất móng. Trên X quang biểu hiện khối u lan tỏa và calci hóa một phần ở đốt xa. Mô bệnh học cho phép chẩn đoán phân biệt u này với những thương tổn xương sụn khác. Một số u hiếm gặp – Qúa sản phẩm sinh của nếp bên móng ở ngón chân cái có thể chịu một u củ nếp bên ngay từ năm đầu. – Naevus biểu bì dạng dải và dạng hạt cơm làm thành những sẩn sùi dạng hạt cơm ở cạnh móng, đôi khi làm cho bề mặt bản móng sẩn sùi khi tổn thương lan đến mặt sâu của nếp trên móng. – U nhú dưới móng của Heller do sự tăng sừng dưới móng ở phần xa. Thương tổn thường đi kèm với dải đỏ dài theo trục xuốngg. Cần phân biệt với u ác tính dưới móng, đặc biệt là bệnh Bowen. – U rối loạn sừng dưới móng dạng hạt cơm tổn thương là nhú dài ở bản móng, kèm theo có thể có xuất huyết dưới móng hoặc dát đỏ dọc theo móng. Tổn thương dạng hạt cơm, cứng khu trú ở rãnh bên của ngón tạo thành nhú sừng. – Nang dưới móng hay gần bản móng xuất hiện tự nhiên hoặc sau chấn thương ở lớp biểu bì nang biểu bì, ở vùng mầm móng nang mầm móng, hoặc vùng giường móng nang onycholemmique. Nang dưới móng xuất hiện sau phẫu thuật móng để chèn ép đến xương làm mòn xương. – U tuyến mồ hôi porome eccrine xuất hiện ở dưới ngón hay ở đầu ngón. U ống tuyến mồ hôi dạng sụn syringome chondroid có thể làm biến dạng ngón chân cái, trên X quang có những tổn thương tiêu xương. – U mầm móng onychomatricome Bốn dấu hiệu lâm sàng có thể giúp cho chẩn đoán là 1 Dài dọc theo trục móng thường có màu vàng, bề ngang có thể khác nhau tùy thuộc vào kích thước khối u; 2 U thẫm màu dạng vùng gốc móng; 3 Thay đổi bề mặt móng, thường bản móng cong lên theo chiều ngang; 4 Khi phát triển u có thể xuất hiện dưới móng ở bờ tự do. – Bệnh xơ ngón ở trẻ nhỏ những u cứng hoặc có tính chất đàn hồi, nhẵn, tròn, hình vòm, màu đỏ, nằm ở mặt lưng hay mặt trục của ngón chân, ngón tay. Tuy nhiên, thường không gặp ở ngón tay, ngón chân cái. Bệnh xuất hiện từ nhỏ nhưng lại rất hiếm gặp ngay sau sinh. Bệnh thường gặp nhiều ở thanh niên hoặc ở tuổi trưởng thành, tiến triển tự nhiên, có thể giảm dần và ổn định. – Sẹo lồi ít gặp ở hệ thống. Hiện tượng này có thể xuất hiện sau khi đốt điện phá hủy mủn các tổn thương quanh móng và dứơi móng, nhất là ở những trường hợp có cơ dịa sẹo lồi. – U mạch hiếm gặp ở hệ móng, đặc biệt là u máu ở trẻ nhỏ. – Dị dạng tĩnh mạch nguồn gốc từ xương hoặc mô mềm dẫn đến phì đại vùng hoặc ngón tay dùi trống. – Dị dạng động-tĩnh mạch có thể là do mắc phải, biểu hiện là nhữung mảng xanh tím hoặc nâu, trên lâm sàng khối u gần giống với hình ảnh của sarcome kaposi. Siêu âm màu phát hiện tình trạng nối thông mạch. Rò động-tĩnh mạch thường là những nang xương phình dẫn đến nang rộng, nhanh, đau đốt xa ở người trẻ. U loạn sản phôi ngoại tiết dạng u mạch hamartome eccrine angiomateux khu trú dưới hoặc quanh móng đã được báo cáo. Tổn thương nâu đỏ, đau. Nó được cấu tạo nên từ tuyến ngoại tiết trong chất đệm giàu mạch máu. – U sừng mạch giới hạn angiokeratome circonscrit đôi khi gặp ở mặt lưng của ngón dưới dạng cục tím sẫm hoặc đen. Angioleiomymoe biểu hiện như là khối u cứng chắc ở cùng dưới móng hoặc móng vùng dưới móng. – Calci háo dưới móng đôi khi biểu hiện là cục dưới móng làm thiểu sản móng. Nút calci háo đôi khi xuất hiện từ nhỏ, phát triển chậm dưới dạng những cục chắc, trắng vàng, hơi sần sùi, ở bờ bên của ngón chân hoặc ngón tay. Chụp phim X quang phát hiện các khối tỷ trọng cao, do nhiều mảnh calci sát cạnh đốt xa dẫn đến sự gia tăng và biến dạng móng. – Các u hiếm gặp khác + U lympho dưới móng hoặc ở đầu ngón rất hiếm gặp. + U mỡ nằm ở dưới bản móng hoặc trong nếp móng có thể sẽ lan rộng gây ra giả ngón dùi trống của đốt xa đồng thời gây loạn dưỡng móng, đôi khi còn có sưng đau của đốt xa. + Amylosis biểu hiện sự tăng trưởng mạnh dạng u nhú bao phủ toàn bộ móng trong bệnh phù niêm trước xương chày. U nhú dưới móng là một dấu hiệu rất rõ của amylose hệ thống. + U xơ thần kinh rất hiếm gặp ở hệ móng. Nó thường đơn độc, một cục hoặc một khối giống như u xơ móng làm biến dạng bản móng dẫn đến biêủ hiện giả ngón dùi trống hay loạn dưỡng. U thần kinh neuromes thường xuất hiện sau chấn thương ở tất cả các cấu trúc của hệ móng, biểu hiện là u rất đau, nhất là khi va chạm hoặc biểu hiện là u nhú dưới móng khi u thần kinh nằm ở mầm móng hoặc giường móng. + U thần kinh pacinien của đốt xa sẽ làm hạn chế gấp ngón. perineuriome biểu hiện ở vùng dưới ngón bởi tình trạng giả ngón tay dùi trống ở một ngón hoặc dưới dạng cục đỏ, tròn, kích thước dạng chấm, giới hạn rõ trong vùng dưới móng xa. 2. U ÁC TÍNH Ở MÓNG Ung thư biểu mô tế bào đáy Đây là loại ung thư da hay gặp nhất, chiếm khoảng 75% các loại ung thư da. Bệnh thường gặp ở người trên 50 tuổi, biểu hiện là khối u nhỏ, ở vùng da hở, thâm nhiễm cứng, màu da bình thường hay có hiện tượng tăn sắc tố, có thể loét, dễ chảy máu. Ung thư tế bào đáy hiếm gặp nhất ở hệ móng. Đôi khi, nó bị che chắn bởi một tình trạng viêm quanh móng mạn tính, đau, thường có u hạt. Phần lớn các trường hợp ở ngón tay. Ung thư biểu mô tế bào vảy Là loại u tính xuất phát từ các tế bào sừng của thượng bì. Ung thư tế bà vảy chiếm khoảng 20% các loại ung thư da, đứng thứ hai sau ung thư tế bào đáy. Ngoài khả năng xâm lấn tại chỗ, các tế bào ung thư có thể di căn xa. Mức độ di căn tùy thuộc vào kích thước, độ dày và vị trí của thương tổn. Ung thư tế bào vảy cũng thường gặp ở hệ móng. Tổn thương đa dạng, xâm lấn, thường tiến triển hình thành các nút sừng, có thể loét ra và tiến triển đến u hạt sinh mủ. Ở giai đoạn đầu thường dễ bỏ sót. Keratoacanthoma KA ở đầu ngón Phát triển nhanh. Đây là u lành tính, đau, thường đơn độc, dạng đa u hiếm gặp. Đặc điểm lâm sàng điển hình mô tả như một nút sừng. Hiếm khi gây phù nề lan tỏa ở hệ móng. Đau có thể do ăn mòn đốt xương cuối. Xu hướng tự thoái triển rất ít xảy ra với keratoacanthoma da. Keratoacanthoma đầu xa ngón thường tiến triển theo chiều dọc trong khi keratoacanthoma ở da có xu hướng lan theo chiều ngang. Bệnh Bowen Bệnh Bowen được coi là ung thư tế bào vảy tại chỗ. Biểu hiện lâm sàng là vùng da hơi lồi cao, bờ khúc khuỷu, giới hạn không rõ ràng, trên có vảy da. Bệnh thường gặp ở những người bị nhiễm độc arsenic mạn tính, do vậy bệnh nhân thường có các biểu hiện khác kèm theo như dày sừng lòng bàn tay, bàn chân hay các u ác tính ở một số các cơ quan nội tạng. Tổn thương ở móng làm thay đổi hình dạng của móng, tăng sừng dưới móng, đôi khi giống như mụn cóc. Dạng giả u xơ sừng hiếm gặp hơn. Nhiều trường hợp biểu hiện lâm sàng là tình trạng tăng sắc tố. Do vậy, để chẩn đoán xác định cần làm xét nghiệm mô bệnh học đối với những trường hợp nghi ngờ. U hắc tố Thường bắt đầu bởi những đốm nhiễm sắc không rõ ràng hoặc melanochie dạng dải dài. Tuy nhiên 1/4 trường hợp u hắc tố lại không có sắc tố đặc trưng. Theo thời gian, chúng hình thành lên những cục có đặc tính của u hạt sinh mủ với bề mặt rỉ nước. Khi u hắc tố nằm ở bên cạnh, nó có thể giống như một móng thụt. Xét nghiệm mô học tất cả các khối có rớm máu là bắt buộc. U ác tính của tuyến mồ hôi ở hệ móng Đây là bệnh lý rất đặc biệt. Biểu hiện lâm sàng không đặc hiệu và chẩn đoán chủ yếu dựa vào mô bệnh học. Khối u này xuất hiện như một cục loét hoặc khối tăng nhạy cảm. Bệnh nhân thường đau khi đi lại. U ác tính khác ở móng Những sarcome hiếm gặp khác ở móng thường gây đau, phát triển kính đáo. Tùy theo từng loại mà có biểu hiện khác nhau. U ác tính khác Sarcome xơ của Darrier-Ferrand là ngoại lệ ở đốt xa. Tổn thương là cục tròn cứng, có tính chất đàn hồi, phát triển tương đồng với sự tăng trưởng của bản móng. Sarcome Kaposi thường gặp ở ngón chân. Dạng kinh điển là những khối u màu xanh hơi nâu ở bàn chân và ngón chân, phát triển dần dần bao phủ bàn móng. Trong hội chứng Kaposi ở BN HIV dương tính, khối u thường lan tỏa hơn. Tổn thương móng do ung thư di căn ở hệ móng và đầu chi. Thường có biể hiện đau vì phần lớn các trường hợp có xấm lấn vào xương. Giả ngón dùi trống ở một hoặc nhiều ngón với màu đỏ sẫm và viêm quanh móng đi kèm với loạn dưỡng móng là những dấu hiệu thường gặp. Cầm tìm các khối ung thư nguyên phát. Ung thư phế quản là u nguyên phát thường gặp nhất khoảng 50% trường hợp. Ngoài ra, nhiều khối u ở các cơ quan khác cũng có thể di căn đến móng vú, thận, đại tràng,… Tài liệu được biên soạn bởi Nguyễn Hữu Sáu Khối u lành tính lành tính khối u lành tính của móng tay là phalanx xa của mô liên kết thoái hóa STD biến thể, bao gồm mucoceles nhầy u nang, exostoses thuộc mức độ A subungual exostosis, u xơ tử cung, u nang biểu bì giường móng tay u nang biểu bì của giường móng, cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng. Hầu hết có thể được phẫu thuật cắt bỏ. Nguyên nhân là u lành tính như thế nào? 1 nguyên nhân 1. Mucocele nang nhầy là phalanx xa của sự thoái hóa mô liên kết. 2. exostosis Subungual subungual exostosis là không thực sự là xương thực tế mụn ngoại sinh, nhưng xương bình thường giả mạo. 3. U xơ thường gặp ở những bệnh nhân bị xơ cứng dạng nốt . 4. U nang biểu bì của giường móng u nang biểu bì của giường móng xảy ra trong chấn thương trước đây . 2 Cơ chế bệnh sinh Cơ chế bệnh sinh chưa rõ ràng. Các triệu chứng của khối u lành tính là gì? Các triệu chứng thường gặp lồi mắt, đau Biểu hiện của khối u lành tính và cách chẩn đoán? 1. Nang nhầy hình thành một tổn thương dạng nang nhỏ không triệu chứng giữa khớp ngón tay xa và móng tay. Có màu thịt đến đỏ, bề mặt nhẵn và bóng, gần như trong suốt. Nếu nó nằm phía trên chất metyl, nó có thể làm lõm xuống dưới da, và u nang có kích thước khoảng 1 đến 2mm theo hướng bên, có thể kéo dài đến cả móng tay. Kích thước của u nang thay đổi bất cứ lúc nào và u nang sẽ co lại sau khi chất lỏng trong u nang được rút hết. Đôi khi ra máu có màu đen. 2. Mụn cóc dạng trứng ngoại sinh dưới da rất hiếm và chủ yếu xuất hiện ở ngón tay cái. Có một khối rắn dưới móng tay và ở đầu xa, thường bị nhầm với mụn cóc. Kiểm tra X-quang có thể xác định chẩn đoán. 3. U xơ có thể đơn lẻ hoặc nhiều u, thường nằm ở vùng quanh móng hoặc dưới móng. Chất xơ metyl có thể làm móng mỏng đi đáng kể và thậm chí làm hỏng móng. 4. Nám sắc tố Nếp nối tiếp giáp trong chất metyl tạo ra vành đai sắc tố dọc trên móng, có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi và tồn tại sau khi khởi phát. Một vài thay đổi đáng ghét. 5. U glomus rất hiếm thường nằm ở dưới móng lớp hạ bì của giường móng, có thể nhìn thấy các tổn thương nhỏ màu xanh qua tấm móng. Đau bức xạ cấp tính, sắc nét và dữ dội là đặc trưng sau khi bị nén . 6. U hạt sinh mủ pyogenic granuloma thường gặp là sự phát triển quá mức của mô hạt tương tự như u hạt sinh mủ, đặc biệt khi mọc ngược. U hắc tố ác tính cũng có thể xuất hiện dưới dạng u hạt có mủ. 7. Keratoacanthoma quái thai xảy ra ở tầng sinh môn khác với những nơi khác. Các đầu ngón tay sưng đỏ cục bộ, đau tăng dần. Một vài tuần đầu tiến triển nhanh chóng, móng tay bị nâng lên và tách khỏi giường móng, và xuất hiện một vảy nhỏ ở , với hoại tử nén của phalanx dưới. Hình dạng mô học tương tự như các bộ phận thông thường, và đôi khi nó có thể bị chẩn đoán nhầm là ung thư biểu mô tế bào vảy. 8. nội sinh chondroma enchondroma là rất hiếm, nếu nó xảy ra trong phalanx xa, nó có thể gây sưng đầu ngón tay, như clubbing. Nó cũng có thể được biểu hiện như mãn tính paronychia hoặc biến dạng lớn của móng tay. 9. Các chồi biểu bì thường nhỏ và chỉ có thể nhìn thấy dưới kính hiển vi. Nói chung là không có triệu chứng gì, nhưng đôi khi boong của đại sứ có thể bị hỏng. 10. Onychomatrixoma Ngón trỏ, ngón giữa và ngón đeo nhẫn có thể bị ảnh hưởng bởi một hoặc một số móng tay. Móng là một dải dọc màu vàng có chiều rộng thay đổi, có vết nứt và chảy máu gần tim. Móng bị bệnh có đường gờ rõ rệt hơn. Mặt cắt có xu hướng uốn cong, độ uốn tăng dần theo độ vàng. Sau khi cắt móng, khối u xuất hiện từ bản móng, móng nông hình phễu, có nhiều lồi dạng sợi ở đoạn gần. 11. U nang biểu bì giường móng tay có thể gây đau khi chúng nén phalanx. Nó có thể được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, đặc điểm tổn thương da, đặc điểm mô bệnh học. Các hạng mục kiểm tra khối u lành tính là gì? Các hạng mục kiểm tra khối u lành tính là gì? Các hạng mục kiểm tra mô bệnh học máu thường quy Cần làm những xét nghiệm gì để phát hiện khối u lành tính? Khối u giường móng Mô bệnh học các bó biểu mô và cột biểu mô không đều từ giường móng, hoặc các tiểu thùy kéo dài vào lớp hạ bì, và các bó biểu mô ở một số bộ phận nối liền nhau và quấn ma trận xung quanh khối u. Bó biểu mô được cấu tạo bởi các tế bào đáy và 2 đến 3 lớp tế bào sừng. Tế bào sừng nảy chồi ở trung tâm trục dài của bó biểu mô phát triển thành một lớp tế bào giảm sừng, và một số bó có lacunas ở trung tâm, dẫn đến hình thành lacunae trên bề mặt biểu bì. Chất nền xung quanh khối u xuất phát từ lớp hạ bì và chứa mô liên kết lỏng lẻo bao gồm nhiều tế bào sợi và một vài sợi đàn hồi. Tham khảo bài viết khác Khối u lành tính túi mật là gì? Thông tin và cách điều trị bệnh Làm thế nào để chẩn đoán phân biệt một khối u lành tính? Nó có thể được chẩn đoán dựa trên biểu hiện lâm sàng, đặc điểm tổn thương da, đặc điểm mô bệnh học. Khối u lành tính sờ, đẩy di động được, phẫu thuật cắt bỏ dễ dàng, cắt bỏ không chuyển, ít tái phát, chẩn đoán u lành phụ thuộc vào mức độ biệt hóa, chỉ số phân bào, tốc độ phát triển và kiểu phát triển, diễn biến thứ phát, chuyển loại. Sự tái phát, ảnh hưởng đến cơ thể,… nên các khối u lành tính cần được phát hiện và điều trị sớm. Khối u lành tính có thể gây ra những bệnh gì? Khối u lành tính có thể gây ra những bệnh gì? Xu hướng ác tính của khối u lành tính. Một số khối u lành tính trải qua quá trình biến đổi ác tính, và một khi chúng trở thành ác tính thì hậu quả cũng giống như khối u ác tính . Các khối u có nhiều khả năng trở thành ác tính bao gồm u lành tuyến tụy, u tuyến giáp , u xơ vú , u tử cung, u xơ xương dẹt của đường tiêu hóa, u xơ mô mềm, u bao hoạt dịch và u xơ dây chằng. Khi đã phát hiện ra những khối u này thì phải điều trị kịp thời. Làm thế nào để ngăn ngừa một khối u lành tính? Nói chung người ta tin rằng nhiều lành khối u , bệnh tật, khuyết tật cướp trợ cấp u ám, chủ yếu là nhiệt thiếu, vì vậy nhiệt độ trong chế độ ăn uống, nên tránh Xin Wen thuộc tính nóng thức ăn, mệt mỏi trì trệ cũng chủ trương ăn ít thực phẩm, nhưng quan hệ tình dục là thực phẩm lạnh. Bạn nên ăn ít hoặc không. Chế độ ăn kiêng của bệnh nhân ung thư cũng khác nhau ở các loại bệnh khác nhau, ví dụ như bệnh nhân ung thư vòm họng nên tránh đồ ăn cay, nóng, đồ rán, đồ nướng, không nên ăn thịt chó, thịt cừu, hạt tiêu, thì là,…; Quế, mù tạt, ớt, … bệnh nhân ung thư thực quản tránh thịt lợn già và vịt già, bệnh nhân ung thư gan tránh thịt lợn cái và ăn ít tỏi tây. Tóm lại, kiêng kỵ nên phù hợp, kiêng kỵ mù quáng sẽ khiến người bệnh suy dinh dưỡng , ảnh hưởng đến việc khỏi bệnh. Việc duy trì sự sống phải dựa vào các chất dinh dưỡng khác nhau trong thức ăn. Vấn đề chính của bệnh nhân ung thư là rối loạn dinh dưỡng , và cải thiện dinh dưỡng cho bệnh nhân là biện pháp quan trọng nhất trong điều trị chống ung thư. Các phương pháp điều trị u lành tính là gì? Những lưu ý trước khi điều trị u lành tính 1 Điều trị 1. Nang nhầy có thể được cắt bỏ hoàn toàn hoặc sau khi hút hết dịch trong nang bằng ống tiêm, có thể nhỏ vài giọt triamcinolone triamcinolone, nhưng nó có thể tái phát. 2. Mụn cóc hình trứng ngoại sinh dưới da có thể được phẫu thuật cắt bỏ một phần của phalanx xa. 3. U xơ thường không cần điều trị và có thể cắt bỏ. 4. Nám sắc tố Nếu nó xảy ra trên móng chân, tổn thương metyl có thể được phẫu thuật cắt bỏ và phần rìa phải được khâu lại. Nếu nó xảy ra trên móng tay, nó nên được quan sát và thực hiện thao tác thận trọng. Sắc tố của người da màu là phổ biến và có thể do chấn thương. 5. U bã đậu là cắt bỏ mảng móng và lấy hết khối u ở giường móng. 6. U hạt chèn ép nên được kiểm tra mô học sau khi cắt bỏ. 7. Keratoacanthomas có thể được loại bỏ hoàn toàn bằng cách cắt bỏ móng tay mà không cần cắt cụt. 8. nội sinh chondroma Tháo mô sụn. Ghép xương khi cần thiết. 9. Khối u của giường móng được phẫu thuật cắt bỏ. 10. Có thể cắt bỏ u nang biểu bì giường móng. 2 Tiên lượng Hiện tại không có mô tả nội dung phù hợp. Chế độ ăn kiêng khối u lành tính 1. Thực phẩm nào cho khối u lành tính tốt cho cơ thể Ăn nhiều rau hơn, 50% rau diếp và trái cây trong chế độ ăn uống của bạn. Bạn cũng nên bổ sung các loại trái cây, hạt, lúa mì nguyên hạt, sữa chua, vì nó chứa nhiều vitamin và nguyên tố vi lượng, có tác dụng ức chế mô khối u rất tốt. 2. Những loại thực phẩm tốt nhất không nên ăn đối với khối u lành tính Tránh các sản phẩm động vật, các sản phẩm từ sữa, muối, đường, các sản phẩm bột mì trắng. Không nên ăn thức ăn chế biến sẵn, vì chúng không chứa enzym, khó tiêu hóa, sinh ra chất độc hại trong ruột kết và máu. U hạt nhiễm khuẩn, còn gọi là u hạt giãn mạch, có biểu hiện một khối u trên da màu đỏ, bóng, hình tròn hoặc bầu dục, giống quả dâu hoặc miếng thịt sống. Đây là căn bệnh lành tính nhưng gây khó chịu vì gây vướng và chảy máu. Ai cũng có thể mắc, nhưng bệnh phổ biến ở trẻ em và thanh niên. U hạt nhiễm khuẩn là phản ứng viêm với biểu hiện là cục u màu thịt, ẩm hoặc có vỏ cứng. Các khối u mạch máu đỏ thường xuất hiện rải rác ở da và niêm mạc, bao gồm các mao mạch sinh trưởng bất thường trong một chất nền phù nề. Tổn thương gây ra bởi bệnh u hạt nhiễm khuẩn trên mô mạch không có nguồn gốc vi khuẩn và bản chất cũng không phải là một u hạt thực sự. Tuy nhiên, triệu chứng thường tiến triển nhanh chóng, hay gặp ở vị trí vừa bị chấn thương đặc biệt là các chi và vùng mặt. Đường kính vùng thương tổn thường không lớn hơn 2 cm, kèm theo phản ứng mạch máu và sợi đáp ứng với tổn thượng bì nằm phía trên u hạt trở nên mỏng, dễ tổn thương, dễ vỡ, gây chảy máu và da xung quanh có thể bị viêm, bao quanh bởi một viền thượng giới hạn rõ. Đối với phụ nữ mang thai, u hạt nhiễm khuẩn có thể trở nên lớn và nổi cộm lên gọi là khối u mang thai hoặc giãn mạch lợi.XEM THÊM Tìm hiểu bệnh u hạt dị ứng và viêm mạch 2. Triệu chứng của bệnh u hạt Bệnh u hạt biểu hiện bằng các chấm nhỏ, màu đỏ, nâu đỏ hoặc xanh đen, phát triển nhanh trong vài ngày tới vài tuần, kích thước thường trong khoảng 2mm - 2cm, dễ chảy máu, có thể viêm loét, hình thành vảy tiết, gây đau đớn. Đa số bệnh nhân chỉ xuất hiện một nốt đỏ đơn độc. Những vị trí hay gặp u hạt nhiễm khuẩn là đầu, cổ, nửa trên thân mình, tay nhất là ngón tay và chân. Phụ nữ mang thai thường bị ở trong 25% bệnh nhân mắc u hạt trên da với các vấn đề về da như sauMàu da thay đổi Vùng da xuất hiện u hạt có thể có màu tối hoặc sáng hơn bình thường;Tổn thương Vết lở loét do u hạt nhiễm khuẩn gây mất thẩm mỹ, đặc biệt là trên mũi, má và tai;Phát ban Xuất hiện các nốt phát ban có màu đỏ hoặc đỏ tím, thường ở vị trí cẳng chân hoặc mắt cá chân;Cục bướu, u nhỏ Phát triển dưới da, thường gặp xung quanh tổn thương do sẹo hoặc vết xăm. Hình ảnh người bệnh mắc u hạt nhiễm khuẩn tại vùng da tay Đôi khi, bệnh u hạt còn gây ảnh hưởng đến mắt nhưng không kèm theo bất kỳ triệu chứng nào. Các triệu chứng ở mắt nếu có, bao gồmSưng tấy đỏ và mờ mắt;Đau mắt;Nhạy cảm với ánh sáng. 3. Nguyên nhân gây ra u hạt nhiễm khuẩn Nguyên nhân gây bệnh chưa được xác định rõ ràng. Các tế bào và mô bị viêm tập trung lại và lan rộng thành những bướu nhỏ hoặc khối u. Những u này khi phát triển lớn sẽ gây cản trở chức năng của chính bộ phận mà nó gây số yếu tố tạo ra thương tổn của u hạt nhiễm khuẩn bao gồmNhiễm khuẩn tụ cầu vàng;Sau một sang chấn nhỏ ví dụ bị kim đâm gây ra thương tổn;Ảnh hưởng từ hormon bệnh có thể gặp ở phụ nữ mang thai hoặc những người dùng thuốc tránh thai;Tác dụng phụ từ một số thuốc như retinoid đường uống acitretin hoặc isotretinoin, hoặc thuốc ức chế protease;Nhiễm virus;Dị dạng mạch máu u hạt có thể gặp ở cả nam và nữ, tuy nhiên thường gặp ở nữ nhiều hơn. Bệnh nhân thường trong độ tuổi 15 đến 65 tuổi. Những yếu tố nguy cơ của bệnh u hạt nhiễm khuẩn làTiền sử gia đình Khả năng mắc bệnh gia tăng nếu trong gia đình có người đã mắc bệnh;Bẩm sinh hệ miễn dịch chưa tốt hoặc có vấn đề về rối loạn tự miễn;Ô nhiễm môi trường sống hoặc thiếu nước sạch. Tiền sử gia đình là một trong các yếu tố nguy cơ mắc bệnh u hạt nhiễm khuẩn 4. Chẩn đoán và điều trị u hạt nhiễm khuẩn Chẩn đoán bệnhNhận biết u hạt nhiễm khuẩn chủ yếu dựa vào bệnh sử và triệu chứng lâm sàng. Thực hiện sinh thiết mô bệnh học giúp bác sĩ loại trừ khả năng mắc các bệnh khác, như ung thư tế bào sắc tố không màu amelanotic melanoma. Hình ảnh điển hình của mô u hạt nhiễm khuẩn là tập hợp dạng thùy các mạch máu thuộc cấu trúc mô bị là kỹ thuật phân tích cần thiết cho tất cả các mô bị loại bỏ vì những thương tổn này đôi khi rất giống với ung thư tế bào hắc tố hoặc khối u ác tính khác, do đó cần phải được phân biệt Điều trịPhương pháp điều trị u hạt nhiễm khuẩn sẽ phụ thuộc vào kích thước khối u, vị trí xuất hiện trên cơ thể và nguyên nhân từng trường hợp cụ với phụ nữ mang thai, thương tổn sẽ mất đi sau khi sinh con, không cần phải chữa trị nếu không có các triệu chứng như chảy máu hoặc đau nhiều. Cách này giúp đảm bảo an toàn cho sự phát triển của thai nhi. Sau khi sinh, nếu khối u không mất đi, bác sĩ sẽ áp dụng những biện pháp điều trị dưới hợp u hạt nhiễm khuẩn do dùng thuốc, cần ngưng sử dụng các thuốc nghi ngờ gây bệnh theo chỉ định bác hạt nhiễm khuẩn ở mắt có thể được loại bỏ bằng phẫu thuật hoặc bôi thuốc mỡ có chứa corticosteroid nhằm giảm phương pháp loại bỏ thương tổn lớn gây ra bởi bệnh u hạtNạo khối u bằng curret;Cắt bỏ bằng laser;Phẫu thuật lạnh Cryosurgery Loại bỏ thương tổn bằng nitơ lạnh cao áp;Hiện nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu về liệu pháp điều trị mới, không xâm lấn, đặc biệt cho trẻ em. Một số nghiên cứu cho thấy dùng thuốc bôi da timolol có hiệu quả làm giảm dần kích thước thương tổn mà không gây tác dụng phụ nghiêm trọng. Tuy nhiên, bệnh vẫn có nguy cơ tái phát sau khi điều trị. Bác sĩ có thể sử dụng laser trong điều trị u hạt nhiễm khuẩn 5. Kiểm soát u hạt nhiễm khuẩn Bệnh u hạt sẽ được cải thiện nếu tuân thủ chế độ sinh hoạt phù hợp như sauĂn nhạt, giảm muối trong khẩu phần khi đang dùng thuốc steroidKiểm tra huyết áp và xét nghiệm đái tháo đườngChủng ngừa vắc-xin phế cầu khuẩn viêm phổiKhông tự ý ngưng uống thuốc hoặc thay đổi liều lượng khi chưa được bác sĩ chỉ địnhKhông tự ý cạy và loại bỏ khối u tại nhàBỏ hút thuốc láHạn chế tiếp xúc trực tiếp ánh nắng mặt lại, u hạt nhiễm khuẩn là một dạng u lành tính, nhưng cũng có thể gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân, đặc biệt là khi khối u bị xuất huyết. Bên cạnh đó, những khối u trên da cũng ảnh hưởng đến vẻ thẩm mỹ bên ngoài. Vì thế, nếu gặp vấn đề rắc rối với căn bệnh này, hãy đến cơ sở y tế chuyên khoa để thăm khám và áp dụng phương pháp điều trị thích viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là địa chỉ thăm khám, điều trị và phòng ngừa các bệnh lý, trong đó có chuyên khoa Ung bướu. Khi thực hiện quy trình thăm khám tại Vinmec, Quý khách hàng sẽ được đón tiếp và sử dụng cơ sở vật chất, hệ thống máy móc hiện đại đi kèm với các dịch vụ y tế hoàn hảo dưới sự chỉ dẫn, tư vấn của các bác sĩ giỏi, được đào tạo bài bản ở cả trong và ngoài nước. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Nguồn tham khảo U mi mắt là u xuất phát từ mi mắt có thể là u lành tính hoặc ác tính, chỉ ảnh hưởng tới thẩm mỹ hay ảnh hưởng cả tới chức năng của mi có khi cản trở tầm nhìn của mắt. Trong các loại u ở mắt thì u mi mắt là một trong hai loại hay gặp nhất. Được chia làm nhiều loại như sau I. Các loại u mi mắt nguồn gốc biểu mô Các u lành tính – U nhú là sự phát triển của biểu mô có dạng nhiều thùy như bắp cải và mỗi thùy chứa một lõi mạch máu ở trung tâm. Nhiều tổn thương khác nhau ở mi mắt có thể phát triển thành u nhú như mụn cơm, dày sừng quang hóa, dày sừng bã. – U sừng – gai là u lành hoạt tính phát triển nhanh 6-8 tuần. u sừng gai là một khối nhô lên của da, lớn, gần như hình tròn, chưa một lõm rốn keratin ở trung tâm, không có loạn sản. Thường được điều trị bằng cách cắt bỏ. – Dày sừng tăng tiết bã nhờn là một loại u da rất thường gặp ở người lớn tuổi. U cso hình khuy áo nổi trên mặt da, bề mặt màu nâu nhạt, nhờn và có dạng mụn cơm nhỏ. Thường không có viêm trừ khi xảy ra kích thích cơ học hay chấn thương. Dễ bị nhầm với tổn thương tiền ác tính là dày sừng quang hóa. – Dày sừng nhú lộn ngược thường được xếp là một loại tăng sản giả u biểu mô, nhưng bản chất là một dạng dày sừng bã nhờn bị viêm và kích thích. Khối u thường có nhú, những chỗ dày sừng bị lõm vào từ bề mặt thường bắt nguồn từ nang lông. – U nang dạng biểu bì, u nang vùi biểu bì, u nang bã nhờn là những khối biểu bì, tròn, nhẵn bao gồm một vòng tế bào gai bao quanh các mảnh tế bào và keratin. U nang dạng bì dùng để chỉ u nang dạng biểu bì bên trong có chứa các cấu trúc phụ của da. Còn u nang bã nhờn thực sự hiếm gặp bên trong được lát bởi những tế bào bã nhờn, ở giữa có chưa chất lipid ứ đọng giống như phomat. U nang bã nhườn là do ống tuyến bã bị bít tắc. Điều trị những u này cần cắt bỏ toàn bộ tổn thương, dẫn lưu đươn thuần không loại trừ được hoàn toàn các tế bào của thành u, chúng sẽ tiếp tục sinh ra keratin hoặc bã nhởn. – Các tổn thương do nhiễm trùng u mềm lây và mụn cơm là những tổn thương do nhiễm virut ở biểu bì. U mềm lây là những nốt nhẵn nổi lên, điển hình cso một lõm ở trung tâm, chúng nhỏ hơn và ít viêm hơn so với u sừng gai. Điều trị u mềm thường bằng cắt bỏ, nhưng u thường biến mất sau khi rạch hoặc nặn đơn giản hoặc cũng có thể điều trị bằng áp lạnh. Mụn cơm thường gặp và do virut u nhú của người gây ra. Thường gặp hơn ở người trẻ và trẻ em. Chúng là những tổn thương tăng sừng hóa dạng u nhú ở da, thường không có triệu chứng. Điều trị chủ yếu là cắt u, nhưng phải cắt toàn bộ nếu không sẽ làm phát tán virut và gây tái phát nhiều lần. Mụn cơm cũng có thể tự mất trong vòng vài tháng đến 2 năm nên có một số trường hợp không cần điều trị. Các u tiền ác tính Dày sừng quang hóa do tuổi già hoặc do mặt trời khối u là tiền triệu của carcinoma tế bào gai. Dày sừng quang hóa là những tổn thương có tăng sừng hóa, dày lớp gai, di sản, xuất hiện ở những vùng da hở của người già phơi nắng quá nhiều trong thời gian dài. Thường có viêm mạn tính ở chân bì và nhiều tổn thương. Khoảng 25% bệnh nhân dày sừng quang hóa xuất hiện carcinoma tế bào gai ở một hoặc nhiều tổn thương này. Khô da sắc tố đây là bệnh di truyền lặn đặc trưng bằng tổn hại khả năng sửa chữa AND do ánh nắng gây ra. Vùng da hở xuất hiện những vùng tăng sắc tố, teo và giãn mao mạch trong khoảng 10 – 20 tuổi. Về sau xuất hiện nhiều khối u da, bao gồm carcinoma tế bào gai, tế bào đáy và u hắc tố. Các u ác tính Carcinoma tế bào đáy là u ác tính thường gặp nhất của mi mắt. vùng quanh hốc mắt là vị trí thường gặp nhất của u này. Khối u bắt đầu bằng một vết loét nhỏ, cứng, bờ loét thường nối cao, tăng sừng hóa. U phát triển rất chậm nhưng sau nhiều năm có thể đạt kích thước rất lớn. Carcinoma tế bào đáy xâm lấn dần và hủy hoại tại chỗ nưhng hiếm khi di căn. Tuy nhiên nếu không được phát hiện và xử trí chúng có thể xâm lấn rộng dưới da, xương thậm chí cả não. Ranh giới sâu và ngoại vi khó phân định nên có thể tái phát sau khi không cắt hết khối u. Vì vậy cần xét nghiệm mô bệnh học sau phẫu thuật. Các phương pháp bổ sung cho phẫu thuật gồm có chiếu tia, áp lạnh hoặc phương pháp hóa phẫu thuật. Carcinoma tế bào gai chiếm 5% tổng số u ác tính ở mi mắt, có liên quan đến sự tiếp xúc lâu dài với ánh nắng. Carcinoma tế bào gai thường gặp ở mi trên, phát triền chậm, nằm tại chỗ trong thời gian dài, nhưng cuối cùng có thể di căn tới hạch lympho khu vực hoặc những vị trí và nội tạng ở xa. II. Các u tuyến và u phần phụ cận Các u lành và carcinoma tuyến bã tăng sản và u tuyến bã thường xảy ra ở tuyến Meibomius nhưng ít phổ biến. Carcinoma tuyến bã thường gặp hơn và thường bị chẩn đoán nhầm là viêm mi – kết mạc mạn tính hoặc chắp tái phát. Carcinoma tuyến bã thường khởi đầu ở mi mắt nhiều hơn những vị trí khác. Rất ác tính, có tỉ lệ tử vong do di cản ít nhất 20% mặc dù được điều trị. Điều trị Carcinoma tuyến bã lý tưởng nhất là cắt bỏ trên diện rộng, có hoặc không kèm theo chiếu tía bổ xung. Liệu pháp chiếu tía đơn độc đôi khi có hiệu quả nhưng không chắc chắn. – Các u lành và Carcinoma của tuyến mồ hôi u lành tính cảu tuyến mồ hôi của mi mắt bao gồm tuyến Moll khá phổ biến và được phân loại theo mô bệnh học và mức độ biệt hóa. Trong khi đó Carcinoma tuyến mồ hôi rất hiếm gặp, chúng có thể có nguồn gốc tuyến ngoại tiết hoặc bán hủy. – Các u của nang lông là u lành tính xuất phát từ các tế bào nang lông của biểu bì. Đó là tổn thương dạng nốt, nhẵn, cso nhiều nang keratin bao quanh bởi những tế bào đáy nằm bên trong chân bì. III. Các u nguồn gốc ngoại bì thần kinh Những tổn thương sắc tố lành tính – Vết tàn nhang là chấm nhỏ, dẹt, màu nâu ở trên da, do tăng sắc tố ở lớp đáy biểu bì. – Nốt ruồi là những khối giả u bẩm sinh bao gồm những ổ hắc tố bào đã bị biến đổi. Nốt ruồi thường có sắc tố nhạt, hoặc k rõ o trẻ nhỏ nhưng khi tuổi cao lên nốt ruồi di chuyển xuống chân bì đồng thời kém hoạt động hơn. – U hắc tố u hắc tố nguyên phát của mi mắt hiếm gặp hơn u hắc tố của da ở những vị trí khác. U hắc tố có thể phát sinh từ nốt ruồi ranh giới hoặc nốt ruồi hỗn hợp vốn có, nhưng hiếm khi sinh ra từ nốt ruồi chân bì. Sự phát triển của khối u cũng có thể nhanh đến mức che khuất nốt ruồi bên dưới. – Nốt ruồi son ác tính thường thấy trên mặt những bệnh nhân lớn tuổi và có thể liên quan tới sự phơi nắng. tổn thương tiền ác tính này có mức độ sắc tố khác nhau, bờ không đều, lan rộng và thoái triển theo từng đợt Các u thần kinh – U xơ thần kinh u xơ thần kinh của mi là một bệnh di truyền trội đặc điểm quan trọng là có nhiều khối u da làm mi to ra và biến dạng nhiều. – U bao Schwann là u bao thần kinh lành tính, đơn độc, ít gặp, thường có vỏ bao bọc. Chúng thường phát sinh từ hốc mắt nhưng có thể xảy ra ở da, kể cả mi mắt. IV. Các u mạch – U mạch mao mạch loại u mi mắt này xuất hiện ngay từ khi sinh ra, lành tính. Chúng to ra trong 18 tháng đầu sau đó thoái triển trong vóng 5-8 năm. Có thể điều trị bằng tiêm Corticoid vào trong tổn thương. – U mạch hang gồm những mạch máu rãn to, ít có khả năng tự thoái triển. U này hiện nay được điều trị abừng laser argon cho kết quả tốt. – U tế bào nội mạc và u tế bào ngoại mạc Đây là tăng sinh lành tính của các tế bào nội mạc, ngoại mạc mạch máu. Có khả năng chuyển thành ác tính nhưng hiếm. – U bạch mạch chủ yếu xuất hiện ở hốc mắt nhưng cũng có thể ở mi mắt. – U hạt ác tính Sarcoma Kaposi u bao gồm nhiều mao mạch tăng sinh, tế bào nội mạc, tế bào dạng nguyên bào sợi không điển hình. Thường gặp ở những bệnh nhân bị suy giảm miễn dịch, bệnh ưa chảy máu, lây qua đường tình dục. Có nhiều phương pháp điều trị u này như hóa chất, chiếu tía, liệu pháp miễn dịch, cắt bỏ tổn thương hoặc áp lạnh. V. Các u vàng – Ban vàng là u mô bào, lành tính biểu hiện bằng một mảng màu vàng ngay dưới biểu bì. Thường gặp ở nữ giới, nhiều nhất ở vùng góc trong mi trên và mi dưới. Không có viêm. Điều trị bằng laser hay cắt bỏ. – U vàng xơ tương tự như ban vàng nhưng trong tổ chức chứa nhiều mô xơ, thường có viêm và ít biến đồi ác tính. – Bệnh mô bào huyết rất hiếm, biểu hiện bằng những ổ tổn thương nhỏ tương tự u hạt vàng ở người trẻ. – U hạt vàng ở người trẻ khối u lành tính, xảy ra ở trẻ em. U gồm nhiều tổn thương ở các vùng khác nhau của da, có thể xảy ra ở mống mắt và hốc mắt. U tròn, nhẵn, màu da cam. U hạt vàng ở người trẻ có thể tự tiêu. VI. Những tổn thương viêm – Lẹo là những nốt viêm mủ cấp tính của mi mắt. Thường do nhiễm tụ cầu vàng. Điều trị bằng kháng sinh, chườm ấm, đôi khi phải trích dẫn lưu. – Chắp u hạt mạn tính xuất phát từ tuyến Zeis hoặc tuyến Meibomius bị bít tắc. Tổn thương có thể tiêu đi sau nhiều ngày, nhiều tháng để lại phần mô sẹo nhỏ. – U hạt sinh mủ là khối gồ lên đỏ như thịt bò, có cuống, có thể xuất phát từ da hoặc niêm mạc, bao gồm kết mạc, tiết tố mủ hoặc nhày mủ. Mô hạt có thể được cắt bỏ, có thể tự mất đi do tróc đột ngột hoặc thu nhỏ dần. Có thể dùng Corticoid tiêm hoặc tra tại chỗ. – Bệnh Sarcoit xảy ra ở mi mắt, kết mạc và mô nội nhãn. Là u hạt riêng rẽ, không sinh bã đậu. Các viêm khác do nhiễm trùng hoặc ký sinh trùng VII. Các u di căn Bất kỳ loại u mi mắt di căn nào cũng có thể xuất hiện ở mi mắt, nhưng hiếm gặp. Vị trí hay gặp nhất là hắc mạc và hốc mắt. Bệnh viện Mắt Sài Gòn Bs. Nguyễn Thị Phương 1/kể tên những bệnh cảnh thuộc nhóm tăng sinh phản ứng1. U hạt sinh mủ- U hạt thai nghén- U hạt sinh mủ sau nhổ răng - post extraction pyogenic granuloma2. U hạt tế bào khổng lồ3. U sợi hóa xương ngoại biên4. U sợi kích thích5. U lợi khe - tăng sinh sợi do viêm chứng - u sợi do hàm giả6. Fibro epithelial polyp7. Tăng sinh dạng nhú8. U thần kinh chấn thương9. Nang niêm dịch10 Nang nghẽn11 Nang nhái2 Bệnh căn của u hạt sinh mủ- Phản ứng quá mức của mô đối với chấn thương hoặc kích thích tại chỗ tăng sinh mao mạch và nguyên bào sợi- Không liên quan đến nhiễm trùng3 Đối tượng thường gặp u hạt sinh mủ- Trẻ em, người trẻ - Nữ > nam - Vệ sinh răng miệng kém yếu tố thuận lợi4 Vị trí thường gặp của u hạt sinh mủ- Thường gặp ở niêm mạc miệng- Thường gặp ở nướu răng 75%, HT>HD răng trước > răng sau - Lưỡi, môi dưới, niêm mạc má5 Mô tả đặc điểm lâm sàng của u hạt sinh mủ- Kích thước 1-2cm - Không đau, tiến triển nhanh giai đoạn đầu - Khối gồ, bề mặtnhẵn, phân thùy, - Có cuống / Không cuống ít hơn - Màu đỏ - đỏ sậm/ hồng tùy theo tổn thương mới hoặc cũ- Sờ mềm, dễ chảy máu và loét bề mặt6 Điều trị và tiên lượng của u hạt sinh mủNguyên tắc điều trị • Phẫu thuật cắt bỏ• Loại bỏ nguyên nhân gây kích thíchTiên lượng • Tiên lượng tốt, đôi khi có tái phát7 Đặc điểm mô bệnh học của u hạt sinh mủTăng sinh nhiều mạch máu Thâm nhiễm tế bào viêm bạch cầu đa nhân, tương bào, lymphô bào Tổn thương lâu có tăng sinh sợi8 Chẩn đoán phân biệt u hạt sinh mủ với những dạng tổn thương nào, chỉ cần kể tênU máu Áp xe / parulis U hạt tế bào khổng lồ ngoại biên U sợi ngoại biên U sợi hóa xương ngoại biênNang mọc răng9 Yếu tố giúp chẩn đoán xác định u hạt sinh mủ🔥 Chẩn đoán dựa vào lâm sàng và sinh thiết cắt trọn Có nguyên nhân chấn thương / kích thích tại chỗ vôi răng Tổn thương tiến triển nhanh giai đoạn đầu Đặc điểm tổn thương Mô bệnh học10 Bệnh căn của U hạt thai nghén- Do kích thích tại chỗ + vệ sinh răng miệng kém Thay đổi nội tiết trong thời kỳ mang thai

u hạt sinh mủ